Labels

Labels

Labels

Hiển thị các bài đăng có nhãn khuyến khích. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn khuyến khích. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 28 tháng 9, 2011

Chủ tịch FED: Mỹ cần học hỏi các nền kinh tế mới nổi

Chủ tịch Cục dự trữ liên bang Mỹ, Ben Bernanke, cho rằng nước Mỹ có thể học cách thúc đẩy tăng trưởng dài hạn từ những thị trường mới nổi đang thành công.
Tuyên bố này của ông Bernake làm hài lòng những quốc gia đang phát triển, vốn luôn nhận nhiều trỉ trích hơn sự ngưỡng mộ từ phía Washington.
Theo ông Bernanke: "Những nền kinh tế phát triển như Mỹ sẽ cần học hỏi những bài học kinh nghiệm từ các thị trường mới nổi. Sức tăng trưởng của các thị trường này thể hiện rõ tầm quan trọng của chính sách tài chính chặt chẽ, khuyến khích thành lập khu vực vốn tư nhân song song với cam kết đầu tư công, giáo dục và công nghệ tiên tiến trong bối cảnh duy trì sự bền vững của nền kinh tế".
Chủ tịch FED:
Chủ tịch FED cho rằng thất nghiệp dài hạn đang là vấn nạn của quốc gia, và đề xuất Quốc hội nên có các biện pháp cụ thể. Ảnh: journalrecord.com
Hôm thứ Tư, Chủ tịch FED cũng cho rằng rất nhiều “thị trường mới nổi không còn phải xem mình bé nhỏ với nền kinh tế mở vốn ít tác động tới các quốc gia láng giềng”, thậm chí họ cần phải có trách nhiệm lớn hơn đối với sự bền vững của kinh tế thế giới.
Cuộc chiến chính trị giữa hai đảng Cộng hòa và Dân chủ tại Mỹ dẫn tới việc Quốc hội phải vất vả quyết định kiểm soát thâm hụt ngân sách và không thông qua được các thỏa thuận thương mại tự do với Hàn Quốc, Colombia và Panama. “Kinh tế vĩ mô ổn định, niềm tin vào sức của thị trường tăng, chính sách mạnh mẽ và thể chế kinh tế là những yếu tố quan trọng để có được mức tăng trưởng cần thiết”, theo ông Bernanke. Nhưng ông cũng thêm rằng những gì xảy ra trong 20 năm qua đã chứng minh rằng Washington luôn bất đồng bởi những vấn đề liên tiếp xảy ra.
Trả lời các câu hỏi liên quan tới vấn đề thất nghiệp sau bài phát biểu tại Cleveland hôm thứ Tư, ông Bernanke khẳng định thất nghiệp dài hạn là vấn nạn của quốc gia và đề xuất Quốc hội nên có các biện pháp để chiến đấu với thực trạng này. Chủ tịch của FED cho biết khoảng 45% số trường hợp thất nghiệp đã kéo dài ít nhất 6 tháng.
Ông cho rằng Chính phủ cần phải hỗ trợ những trường hợp này để đào tạo lại kỹ năng cho họ để có thể tìm được một công việc mới, và Quốc hội cần nhận trách nhiệm chuyện này. Về vai trò của FED trong cuộc khủng hoảng kinh tế hiện nay của Mỹ, ông Bernanke nói: “FED đã có rất nhiều nỗ lực để giúp nền kinh tế phục hồi và bình ổn thông qua việc kiểm soát lãi suất hay chính sách tiền tệ. Các chính sách này đang giữ lãi suất ở mức thấp kỷ lục. Những biện pháp trên có thể giải quyết được nhiều vấn đề, nhưng vẫn không phải là thuốc chữa bách bệnh”.
Anh Quân (tổng hợp)
Continue Reading »

Lãng phí đất, hậu họa khó lường

"Nếu Quốc hội và các cơ quan chức năng không quyết đoán trong quy hoạch thì câu chuyện đất sân golf, resort sẽ còn kéo theo nhiều điều phức tạp" - Vấn đề được nêu tại Hội thảo lấy ý kiến về quy hoạch sử dụng đất (SDĐ) đến năm 2020 và kế hoạch SDĐ 5 năm 2011 – 2015 do Ủy ban kinh tế của Quốc hội tổ chức hôm qua - 27/9.
Lãng phí đất
Tại Hội thảo, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã thông báo các kết quả về công tác tổ chức lập quy hoạch, kế hoạch SDĐ 10 năm qua, trong đó có một số chỉ tiêu còn chưa đạt đến mức Quốc hội phê duyệt trong Quy hoạch, kế hoạch SDĐ 2001 – 2010, như đất lâm nghiệp (đạt 96,5%), đất ở tại nông thôn (đạt gần 60%), đất khai thác khoáng sản (đạt 66,67%), đất cơ sở y tế (85,7%)…
Nếu như chỉ tiêu đất ở nông thôn đạt thấp được lý giải là do các địa phương còn chưa thực hiện "đến nơi" việc xác định để công nhận diện tích đất vườn ao trên cùng thửa đất có nhà trong các khu dân cư theo quy định của Luật Đất đai, thì chỉ tiêu đất khai thác khoáng sản đạt thấp lại được đánh giá là "điều may mắn" trong bối cảnh quản lý khai thác khoáng sản nhiều bất cập như hiện nay.
Bên cạnh đó, có nhiều lĩnh vực SDĐ tăng "chóng mặt" so với chỉ tiêu được Quốc hội phê duyệt. Đất ở tại đô thị đạt 134 nghìn ha, vượt 20,72% so với chỉ tiêu được duyệt, dù góp phần đáp ứng nhu cầu đất ở, nhà ở cho người dân đô thị nhưng có lúc đi trước nhu cầu thực tế, sử dụng nhiều vào đất lúa, tồn tại tình trạng nhà bỏ hoang, khu đô thị bỏ hoang. Tương tự, đất khu, cụm công nghiệp đạt 100% chỉ tiêu Quốc hội duyệt, cả nước hiện có 267 khu công nghiệp (KCN), với tổng diện tích 72 nghìn ha.
Tuy nhiên, tỷ lệ lấp đầy bình quân chỉ gần 46%. Trong số 177 KCN đã đi vào hoạt động, chỉ có 43 khu đạt tỷ lệ lấp đầy 100%. 650 cụm công nghiệp với 28 nghìn ha chỉ mới có 44% diện tích đất được thuê. "Tỷ lệ lấp đầy không cao của các KCN là một điều đáng xem xét" - TS. Đặng Hùng Võ bình luận. Theo ông Võ, quy hoạch sân golf, resort ở Việt Nam có thực tế là nhà đầu tư tìm mọi cách thuyết trình để xin được nhiều đất cho dự án, sau đó tìm cách "xoay xở" để xử lý. "Nếu Quốc hội và các cơ quan chức năng không quyết đoán trong quy hoạch thì câu chuyện đất sân golf, resort sẽ còn kéo theo nhiều điều phức tạp" - ông Võ góp ý.
Lãng phí đất, hậu họa khó lường, Chung cư-Nhà đất-Bất động sản, Tài chính - Bất động sản, bat dong san, su dung dat, san golf, resort, quy hoach, gia nha dat

Có nhiều lĩnh vực SDĐ tăng "chóng mặt" so với chỉ tiêu được Quốc hội phê duyệt. (Ảnh minh họa).
Luật Đất đai luôn bị tụt hậu
TS. Trần Đình Thiên – chuyên gia kinh tế đề nghị phải xem xét cơ sở của quy hoạch đất đai: Căn cứ trên chiến lược phát triển kinh tế hay chiến lược CNH – HĐH?. "Giờ chúng ta quy hoạch KCN theo hướng dùng nhiều vốn, nhiều đất nhưng lại ít sử dụng lao động, điều đó dẫn đến bi kịch nông dân không biết phải làm gì khi đất đã bị lấy cho KCN. Quy hoạch như thế có hợp lý hay không?"- ông Thiên nói.
Theo ông Thiên, vấn đề SDĐ của KCN không phải là lấp đầy đất, mà là hiệu quả của việc SDĐ mang lại. "Không thể lấp đầy KCN bằng công nghệ thấp", ông Thiên quả quyết. Trước tình trạng "1 tháng xuất hiện 1 khu đô thị trong điều kiện nguồn lực còn hạn chế», ông Thiên cũng nhận định, Việt Nam đang không quy hoạch được không gian đất (ngầm, trên cao), mà «làm kiểu cày đất trên mặt bằng".
Quy hoạch SDĐ đến năm 2020 và kế hoạch SDĐ 5 năm 2011 – 2015 được đưa ra lấy ý kiến vào thời điểm Luật Đất đai cũng đang chuẩn bị được sửa đổi. Tình trạng này tương tự như xây dựng quy hoạch giai đoạn 2001 – 2010. Quy hoạch được phê duyệt rồi thì Luật Đất đai mới ban hành, rồi luật lại tuân thủ và góp phần thực hiện quy hoạch.
"Lẽ ra phải đi trước đón đầu thì Luật Đất đai toàn theo sau thực tế, lạc hậu. Lần nào cũng vậy, cứ phê duyệt xong rồi, Luật Đất đai mới ban hành. Khi có luật, thế nào cũng loạn cả lên do sự tranh cãi giữa việc tuân thủ văn bản này làm theo văn bản kia", một đại biểu nhận định.
TS. Đặng Kim Sơn – Viện trưởng Viện Chính sách và chiến lược phát triển Nông nghiệp Nông thôn: "Có 24 kịch bản liên quan đến việc giảm đất lúa (còn từ 3 triệu ha đến 3,8 triệu ha), thì theo kịch bản nào, an ninh lương thực luôn được đảm bảo. Chúng ta cần cẩn trọng khi xem xét việc chuyển đất lúa sang mục đích khác, nhưng khuyến khích chuyển sang trồng cây có hiệu quả kinh tế cao hơn…”
Ông Lê Quốc Dung – Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Quốc hội khóa XII: “Khi quy hoạch đất lúa, phải xét an ninh lương thực cho cả hàng trăm năm chứ không phải chỉ 5 hay 10 năm…”
Continue Reading »

Thứ Ba, 20 tháng 9, 2011

Giá xăng dầu ngược quy luật thị trường

Hiếm có nơi nào trên thế giới, ngay cả ở những nước chủ yếu sống bằng việc khai thác và xuất khẩu dầu mỏ, mà giá xăng dầu lại chứa nhiều ẩn số và thông điệp như ở Việt Nam.
Đặc biệt, giá xăng dầu có ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến lạm phát, đến sự minh bạch và cạnh tranh lành mạnh  thị trường, cũng như  cả đến uy tín và hiệu quả quản lý Nhà nước!

Thỏa hiệp với doanh nghiệp

Từ năm 2009, Chính phủ chủ trương điều hành giá mặt hàng xăng dầu theo nguyên tắc thị trường, Nhà nước không còn bù lỗ, hỗ trợ đối với kinh doanh các mặt hàng xăng dầu. Thực tế, do nhiều nguyên nhân, cho đến nay, giá xăng dầu của Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn mang tính thị trường do chưa có cơ chế cạnh tranh thị trường đầy đủ.

Người tiêu dùng đòi hỏi giá xăng dầu phải minh bạch.

Về cơ bản, giá xăng dầu được phân quyền quản lý giữa các đơn vị chủ quản và một số đầu mối nhập khẩu xăng dầu truyền thống độc quyền. Thậm chí, đã có lúc người ta thấy có sự vận dụng ngược trình tự quy luật thị trường, tức chủ trương cho phép các doanh nghiệp độc quyền được định giá xăng dầu theo giá thị trường thế giới mà không phải cạnh tranh thị trường. Trong khi cần làm ngược lại, phải cho cạnh tranh thị trường đầy đủ và lành mạnh trước khi tự do hóa giá cả thị trường để tránh biến độc quyền Nhà nước thành độc quyền doanh nghiệp.

Gần đây cho thấy có sự thỏa hiệp giữa các cơ quan quản lý Nhà nước với các doanh nghiệp độc quyền xăng dầu khi khẳng định cơ chế mới về quản lý giá xăng dầu. Theo đó, chấp nhận mức giá hiện tại sau cú sốc tăng giá tháng 3/2011 như giá nền, gốc để so sánh và cho phép doanh nghiệp chủ động tăng, giảm giá xăng dầu theo sát động thái giá thị trường thế giới khi mức điều chỉnh không quá 5% giá gốc đó. Nếu vượt mức trên thì làm phương án trình cơ quan chức năng Nhà nước xem xét, phê duyệt… Đồng thời, dãn cách điều chỉnh không ngắn hơn 3 tháng/lần thay vì 10 ngày/lần như quy định trong Nghị định 84, được coi là quá dày và dễ bị doanh nghiệp lợi dụng.

Tuy nhiên, bất cập là ở chỗ doanh nghiệp dễ dàng xé nhỏ mức tăng giá dưới 5% như kiểu quản lý giá sữa mà người ta đã chứng kiến trên thực tế những năm qua. Hơn nữa, chưa có cơ chế giám sát và chế tài buộc doanh nghiệp hạ giá khi giá thế giới giảm  nhanh và sâu.

Tự kê, tự giải trình

Trước hết, cần công khai và kiểm toán sự chính xác của “ma trận” các con số tự kê, tự giải trình của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu để có căn cứ hợp lý xác định mức điều chỉnh giá xăng dầu bán ra của các doanh nghiệp này.

Nên phân nhóm lại giá bán lẻ xăng dầu thành phần “cứng” và “mềm”, làm cơ sở tính giá tối thiểu của giá bán lẻ các mặt hàng này.

Cụ thể: Phần “cứng”, tức giá cơ sở mới sẽ chỉ gồm các chi phí sản xuất tối thiểu là giá nhập khẩu gốc tại thời điểm hiện hành (giá thực trả, bao gồm có tính đến biến động thực của tỉ giá); chi phí vận chuyển hợp lý tối thiểu; hao hụt định mức kỹ thuật và chi phí lưu thông khách quan khác.

Phần “mềm” gồm: khoản lãi định mức của doanh nghiệp kinh doanh phân phối xăng dầu; các nghĩa vụ tài chính đối với ngân sách Nhà nước và các khoản thu khác cho Nhà nước.

Khi đó, giá bán lẻ xăng dầu thực tế sẽ là: Giá sàn = phần “cứng” tại khoảng thời điểm tính toán hợp lý và là cơ sở để các doanh nghiệp và người tiêu dùng làm mốc tính giá bán lẻ xăng dầu tối thiểu. Giá trần = phần “cứng” +  phần “mềm” tại khoảng thời điểm tính toán hợp lý và là cơ sở để các doanh nghiệp và người tiêu dùng làm  mốc tính giá bán lẻ xăng dầu tối đa.

Khi đó, các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu sẽ căn cứ vào mức phần “cứng” và “mềm” để quy định giá bán sàn và trần cho các đại lý nhằm khuyến khích cạnh tranh. Các cơ quan chức năng Nhà nước cũng sẽ “nhàn” hơn, điều hành giá cả xăng dầu hợp lý hơn theo cơ chế thị trường, không can thiệp vào quá trình ra quyết định này của các doanh nghiệp, chỉ giám sát các chỉ số cấu thành giá cả xăng dầu liên quan đến các phần “cứng” và “mềm” định mức.

Cần sớm đẩy nhanh tiến trình tự do hóa kinh doanh xăng dầu, tách hoạt động kinh doanh xăng dầu ra khỏi nhiệm vụ chính trị của yêu cầu dự trữ bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Chỉ khi đó giá xăng dầu mới thực sự có tính thị trường, trở nên minh bạch và dễ dự báo hơn, tạo sự đồng thuận và hiệu quả xã hội cao hơn.

 Chưa minh bạch và công khai

Vấn đề dư luận bức xúc là chưa có kiểm toán giá xăng dầu, thậm chí chưa có cả việc minh bạch và công khai hóa các chỉ số thành phần giá xăng dầu. Chính sự thiếu tường minh cơ cấu giá xăng dầu là nguyên nhân giải thích cho điều khó giải thích nhất là dù giá lên hay xuống thì doanh nghiệp đầu mối nhập xăng dầu luôn kêu lỗ, cơ quan chức năng luôn chịu cảnh “trên đe dưới búa”, ngân sách Nhà nước thất thu và người tiêu dùng thì cắn răng chịu đựng vì không còn lựa chọn nào khác.

Theo TS Nguyễn Minh Phong - Dương Quỳnh Chi
Viện Nghiên cứu Phát triển kinh tế - xã hội Hà Nội
Báo NLĐ
Continue Reading »